Hai cách tính lãi vay trả góp
Gốc đều, lãi trên dư nợ giảm dần: mỗi tháng trả gốc = Số vay ÷ số tháng, lãi = dư nợ còn lại × lãi suất năm ÷ 12. Tháng đầu trả nhiều nhất, sau giảm dần. Tổng lãi thấp hơn.
Trả đều (niên kim): mỗi tháng trả một số tiền cố định A = P × r ÷ (1 − (1 + r)−n), với r là lãi suất tháng. Dễ lên kế hoạch hơn nhưng tổng lãi cao hơn một chút.
Ví dụ
Vay 120.000.000đ, lãi 12%/năm, 12 tháng, gốc đều: tháng 1 trả 10.000.000 gốc + 1.200.000 lãi = 11.200.000đ; tháng 12 trả 10.100.000đ. Trả đều: vay 100.000.000đ cùng điều kiện, mỗi tháng 8.884.879đ.
Lưu ý: nhiều khoản vay chỉ ưu đãi lãi suất 6 đến 24 tháng đầu rồi thả nổi. Công cụ giả định lãi cố định cả kỳ, chưa gồm phí trả nợ trước hạn và bảo hiểm khoản vay. Hãy hỏi ngân hàng lãi suất sau ưu đãi.
Câu hỏi thường gặp
Dư nợ giảm dần là gì?
Là cách tính lãi trên số tiền gốc còn nợ thực tế. Mỗi lần trả bớt gốc thì tiền lãi kỳ sau giảm theo. Cả hai cách trong công cụ đều tính lãi trên dư nợ còn lại; khác nhau ở cách chia tiền gốc.
Lãi suất phẳng (lãi tính trên nợ gốc ban đầu) khác gì?
Lãi phẳng tính trên toàn bộ số vay ban đầu suốt kỳ hạn, nên lãi thực tế cao gần gấp đôi con số quảng cáo. Hay gặp ở vay tiêu dùng, mua trả góp. Hãy hỏi rõ trước khi ký.
Nên chọn cách trả nào?
Nếu dòng tiền đủ cho các tháng đầu, gốc đều giúp trả ít lãi hơn. Nếu muốn số tiền mỗi tháng cố định để dễ quản lý, chọn trả đều.